Popular Posts
-
Ngày ấy vào đời nhà Trần có một cụ đồ nho ở xã Quang Liệt tên là Chu Văn An. Học vấn của cụ sâu và rộng. Cũng vì tiếng tăm của cụ truyền kh...
-
SỰ TÍCH CÁ HE Nguyễn Đổng Chí Ngày xưa có một nhà sư trẻ tuổi rất ngoan đạo. Sau hơn ba mươi năm khổ công tu luyện, sư thuộc lòng...
-
Đề bài 1: Viết về quê hương em (Văn học lớp 3) Bài làm Mỗi người đều có một nơi để sinh ra, lớn lên, trưởng thành và đi xa thì luôn...
-
Thật lạ là, một đứa tư duy logic như mình lại muốn trở thành một nhà văn. Mình không biết mình có năng khiếu văn chương hay không, nhưng nh...
-
Ai ở xa về, có việc vào nhà thống lý (1) Pá Tra thường trông thấy có một cô gái ngồi quay sợi gai bên tầng đá trước cửa, cạnh tầu ngựa. ...
-
Đề bài : Em hãy tả con mèo nhà em nuôi Bài làm : Tả con mèo Mỗi khi đi học về là em lại nghe thấy tiếng “meo, meo” mừng rỡ củ...
-
Bài văn miêu tả cây phượng trong sân trường em Ở sân trường em trống rất nhiều cây bóng mát, nào là cây bàng, cây đa.Nhưng đối với em ...
-
Truyện ngắn về gia đình: Chuyện vườn rau "Mấy đời bánh đúc có xương Mấy đời dì ghẻ lại thương con chồng" Câu nói ấy đã ...
-
Sáng mình ngồi trên ô tô đi làm, nhìn qua cửa kính, hình ảnh thằng em cầm bộ quần áo bảo hộ, đi bộ về nhà làm mình rớt nước mắt. Giọt nước ...
-
Chiếc lược ngà - Nguyễn Quang Sáng Chiếc lược ngà Vào một đêm trời sáng trăng suông, trong một ngôi nhà nhỏ, giữa Tháp Mười mà ch...
About
Blog Archive
Được tạo bởi Blogger.
Giới thiệu về tôi
LATEST POSTS
-
Đề bài 1: Viết về quê hương em (Văn học lớp 3) Bài làm Mỗi người đều có một nơi để sinh ra, lớn lên, trưởng thành và đi xa thì luôn...
-
Thật lạ là, một đứa tư duy logic như mình lại muốn trở thành một nhà văn. Mình không biết mình có năng khiếu văn chương hay không, nhưng nh...
-
Đề bài : Em hãy tả con mèo nhà em nuôi Bài làm : Tả con mèo Mỗi khi đi học về là em lại nghe thấy tiếng “meo, meo” mừng rỡ củ...
-
Bài văn miêu tả cây phượng trong sân trường em Ở sân trường em trống rất nhiều cây bóng mát, nào là cây bàng, cây đa.Nhưng đối với em ...
-
Truyện ngắn về gia đình: Chuyện vườn rau "Mấy đời bánh đúc có xương Mấy đời dì ghẻ lại thương con chồng" Câu nói ấy đã ...
-
Sáng mình ngồi trên ô tô đi làm, nhìn qua cửa kính, hình ảnh thằng em cầm bộ quần áo bảo hộ, đi bộ về nhà làm mình rớt nước mắt. Giọt nước ...
-
Chiếc lược ngà - Nguyễn Quang Sáng Chiếc lược ngà Vào một đêm trời sáng trăng suông, trong một ngôi nhà nhỏ, giữa Tháp Mười mà ch...
Thứ Tư, 2 tháng 11, 2016
Đề bài: Viết đoạn văn ngắn tả về cô giáo của em
![]() |
| Viết đoạn văn ngắn tả về cô giáo |
“Ăn quả nhớ kẻ trồng cây
Có danh có vọng nhớ thầy khi xưa”
Đó chính là những câu thành ngữ tả về cô giáo của em, nghề mà luôn được yêu quý, kính trọng. Tôi rất yêu mến các thầy cô giáo của mình, nhưng người để lại cho tôi những ấn tượng sâu sắc nhất chính là cô Kim Anh- cô giáo chủ nhiệm của chúng tôi.
Cô có mái tóc rất dài, mượt mà, đen nhánh và luôn phảng phất hương thơm. Đôi mắt cô to tròn, đen láy, vô cùng cương nghị nhưng cũng không kém phần dịu dàng. Khi chúng tôi đạt thành tích cao trong học tập, cô luôn nhìn chúng tôi với ánh mắt trìu mến.
Còn mỗi khi chúng tôi mắc lỗi, đôi mắt cương nghị của cô lại đượm buồn. Đôi bàn tay cô thon dài, luôn viết ra những mạch văn giàu cảm xúc để chuyển tải bài học đến với chúng tôi. Cô còn giúp chúng tôi nhớ bài lâu hơn bằng giọng nói của mình.
Giọng nói của cô thật truyền cảm, khi thì dịu dàng, ấm áp, lúc lại dí dỏm, vui tươi khiến cho chúng tôi luôn tập trung vào bài học, quên cả thời gian. Tính cách cô hiền lành, chính trực, cô luôn nghiêm túc với công việc của mình. Hàng ngày, cô rất hay vui đùa với chúng tôi nhưng khi đã vào tiết học, cô cũng rất nghiêm khắc.
Với cô, dạy học không chỉ là một nghề, mà còn là một niềm đam mê. Cô luôn chuẩn bị rất kỹ cho bài giảng của mình, nhiều khi cô còn sử dụng cả những đoạn clip ngắn về bài học, giúp chúng tôi có thể tiếp thu bài nhanh nhất.
Dù cô đã là một giáo viên nhưng cô vẫn học, đó là sở thích của cô. Cô luôn thức đến ba, bốn giờ sáng mới đi ngủ vì sau khi soạn giáo án, cô lại tiếp tục học bài. “Học như một con đò ngược dòng vậy, các con ạ!” Lời cô nói thấm thía lòng chúng tôi.
Tôi nhớ nhất là khi cô đi thăm quan với lớp chúng tôi. Lúc ấy, trên nét mặt cũng như trong đôi mắt của cô thể hiện sự lo lắng, bồn chồn không yên.
Sau đó, chúng tôi mới vỡ lẽ, ra là hôm ấy, cô có bài thi môn triết học nhưng cô đã nghỉ thi để đi cùng với lớp chúng tôi vì cô sợ rằng có vấn đề gì không hay với chúng tôi, cô sẽ ân hận cả đời.
Thứ Hai, 31 tháng 10, 2016
Đề bài: Viết đoạn văn miêu tả con vật mà em yêu quý
Miêu tả con trâu
![]() |
| Miêu tả con trâu |
Trên bãi cỏ ven đê có nhiều trâu, bò đang gặm cỏ. Hình ảnh con nghé và con trâu mẹ thật đáng yêu.
Trâu mẹ to béo, da đen bóng cái đuôi phe phẩy, gặm cỏ non. Chú nghứ con cong đuôi từ xa chạy đến rúc đầu vào bầu vú mẹ.
Chú nghé thật xinh, lông vàng tơ hồn nhiên, ngây thơ như một em bé mới tập đi. Trâu mẹ lại chốc chốc quay đầu ư lại liếm vào đầu, vào lưng đứa con thơ, cặp mắt mở to với bao tình âu yếm.
Nắng vàng chiều quê in bóng trâu mẹ và nghé con. Em bước đi rồi ngoái lại ngắm bức tranh quê đầy tình mẫu tử.
Trong gia đình, ai cũng thương yêu em hết mực, nhưng mẹ là người gần gũi, chăm sóc em nhiều nhất.
![]() |
| Văn tả mẹ |
Năm nay, mẹ em bốn mươi tuổi. Với thân hình mảnh mai, thon thả đã tôn thêm vẻ đẹp sang trọng của người mẹ hiền từ. Mái tóc đen óng mượt mà dài ngang lưng được mẹ thắt lên gọn gàng.
Đôi mắt mẹ đen láy luôn nhìn em với ánh mắt trìu mến thương yêu. Khuôn mặt mẹ hình trái xoan với làn da trắng. Đôi môi thắm hồng nằm dưới chiếc mũi cao thanh tú càng nhìn càng thấy đẹp.
Khi cười, nhìn mẹ tươi như đóa hoa hồng vừa nở ban mai. Đôi bàn tay mẹ rám nắng các ngón tay gầy gầy xương xương vì mẹ phải tảo tần để nuôi nấng, dìu dắt em từ thưở em vừa lọt lòng.Mẹ làm nghề nông nhưng mẹ may và thêu rất đẹp. Đặc biệt mẹ may bộ đồ trông thật duyên dáng, sang trọng.
Ở nhà, mẹ là người đảm nhiệm công việc nội trợ. Mẹ dạy cho em các công việc nhẹ nhàng như: quét nhà, gấp quần áo... Còn bố thì giúp mẹ giặt đồ, dọn dẹp nhà cửa sạch sẽ. Thỉnh thoảng, mẹ mua hoa về chưng ở phòng khách cho đẹp nhà.
Mỗi khi khách đến, mẹ luôn đón tiếp niềm nở, nồng hậu, mời khách đĩa trái cây và nước mát. Mẹ luôn dậy sớm để chuẩn bị bữa ăn sáng cho cả nhà, để hai anh em cùng cắp sách đến trường kịp giờ học.
Khi em ốm đau mẹ phải thức suốt đêm để chăm sóc. Mẹ lo thuốc cho em uống kịp thời. Mẹ nấu cháo và bón cho em từng thìa.
Tuy công việc đồng áng bận rộn nhưng buổi tối mẹ thường dành khoảng ba mươi phút để giảng bài cho em. Sau đó mẹ chuẩn bị đồ để sáng mai dậy sớm lo buổi sáng cho gia đình. Mẹ rất nhân hậu, hiền từ.
Mẹ chưa bao giờ mắng em một lời. Mỗi khi em mắc lỗi , mẹ dịu dàng nhắc nhở em sửa lỗi. Chính vì mẹ âm thầm lặng lẽ dạy cho em những điều hay lẽ phải mà em rất kính phục mẹ. Mẹ em là vậy.
Mẹ ơi, con yêu mẹ lắm! Mỗi khi được mẹ ôm ấp trong vòng tay ấm áp của mẹ, con thấy mình thật hạnh phúc vì có mẹ .Mẹ ơi! Có mẹ, con thấy sướng vui. Có mẹ, con thấy ấm lòng. Trong trái tim con, mẹ là tất cả, mẹ là cô tiên tuỵêt vời nhất trong cuộc đời con. Con luôn yêu thương mẹ và tự hào vì được làm con của mẹ.
Tấm lòng của mẹ bao la nh biển cả đối với con và con hiểu rằng không ai thương con hơn mẹ. Ôi, mẹ kính yêu của con! Con yêu mẹ hơn tất cả mọi thứ trên cõi đời này vì mẹ chính là mẹ của con.
"Đi khắp thế gian không ai tốt bằng mẹ...." Con mong sao cho mình mau lớn để có thể giúp cho mẹ đỡ vất vả hơn. Con hứa sẽ chăm học và cố gắng học thật giỏi để báo đáp công ơn sinh thành nuôi nấng con nên người, mẹ ơi.2016/10/tap-truyen-co-tich-viet-nam-la-mot.html
Thứ Tư, 26 tháng 10, 2016
Đề bài: Phân tích tác phẩm Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân
Bài làm
![]() |
| Phân tích tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân |
Kim Lân là nhà văn của làng quê Việt Nam với cách viết chân chất, mộc mạc và những hình ảnh nhân vật điển hình cho làng quê. Văn của Kim Lân đi sâu vào lòng người đọc bởi tình cảm bình dị, rất đời thường nhưng chan chứa nghĩa tình. Tác phẩm “Vợ nhặt” là một “kiệt tác” của văn học hiện thực Việt Nam, tái hiện thành công xã hội nghèo khổ, cùng cực, bế tắc của người nông dân. Bằng bút pháp tả thực Kim Lân đã xây dựng thành công tuyến nhân vật đại diện cho cuộc sống bần cùng giai đoạn đó.
Truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân ra đời trong thời kỳ đất nước đang rơi vào nạn đói năm 1945, đời sống nhân dân bần cùng, kẻ sống người chết nham nhảm, ”người chết như nga ra, không buổi sáng nào người trong làng đi chợi, đi làm đồng không gặp ba bốn cái thây nằm còng queo bên đường. Không khí vấn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người”. Khung cảnh xóm ngụ cư ấy đã diễn tả được cái đói đang hoành hành, đời sống nhân dân thê thảm.
Ngay từ nhan đề của tác phẩm, Kim Lân đã dẫn người đọc khám phá cuộc sống của những điều khốn khổ, bần hàn nhất. Là “vợ nhặt”, là chi tiết và là tình huống truyện thắt nút làm nên cuộc đời của từng nhân vật.
Mở đầu truyện ngắn, tác giả đã phác họa hình ảnh nhân vật anh cu Tràng “hắn bước đi ngật ngưỡng, vừa đi vừa tủm tỉm cười, hai bên quai hàm bạnh ra…” Chỉ với vài chi tiết đó, người đọc cũng đã hình dung được diện mạo xấu xí của một anh nông dân nghèo rách mùng tơi. Từ ngày nạn đói hoành hành, đám trẻ con không buồn trêu tràng nữa, vì chúng đã không còn sức lực. Khung cảnh buồn thiu, đầy ám ảnh bao phủ lên xóm nghèo. Trong khung cảnh chiều tà, suy nghĩ của Tràng được tái hiện “hắn bước đi từng bước mệt mỏi, cái ao nâu tàng vắt sang một bên cánh tay. Hình như những lo lắng, cực nhọc đè nặng lên cái lưng gấu của hắn”.
Với vài chi tiết tiêu biểu, Kim Lân đã vé lên trước mặt người đọc hình ảnh người nông dân nghèo đói, xơ xác, bộn bề lo lâu đến cùng cực.
Tác giả đã thật khéo để xây dựng nên tình huống truyện độc đáo, mới lạ, làm thay đổi cuộc đời của một con người. Tình huống Tràng “nhặt” được vợ. Là “nhặt” được chứ không phải lấy được. Người đọc nhận ra sự thê thảm, bước đường cùng và đầy éo léo của con người trong xã hội bấy giờ.
Hình anh vợ anh cu Tràng dần dần hiện ra dưới ngòi bút miêu tả của nhà văn đầy ám ảnh “ thị cắp cái thúng con, đầu hơi cúi xuống, cái nón rách tàng nghiêng nghiêng che khuất đi nửa mặt. Thị có vẻ rón rén,e thẹn”. Một người đàn bà nghèo khổ, không còn thứ gì giá trị đi cạnh một người đàn ông nghèo khổ, cùng cực đúng là một đôi trời sinh.
Giữa cái đưa vợ “nhặt” được về nhà, Kim Lân đã xây dựng nên khung cảnh đìu hiu, ảm đảm của xóm nghèo “từng trận gió từ cánh đồng thổi vào, ngăn ngắt. Hai bên dãy phố, úp sụp, tối om, không nhà nào có ánh đèn, lửa. Dưới gốc đa, gốc gạo xù xì bóng những người đói dật dờ đi lại lặng lẽ như những bóng ma. Tiếng quạ kêu trên mấy cây gạo ngoài bãi chợ cứ gào lên từng hồi thê thiết”. Không còn gì thê thảm và hiu hắt hơn khung cảnh chiều tàn nơi xóm nghèo như vậy. Mọi thứ dường như bị cái đói, cài nghèo đè nén đếm chìm nghỉm. Bằng ngòi bút tả thực sinh động, Kim Lân đã gieo vào lòng người đọc nhiều chua xót, đắng cay cho những phận nghèo long đong.
Điều đáng chú ý chính là cách những người hàng xóm hỏi thăm Tràng về người đàn bà đi bên cạnh tràng. Thực ra thấy lạ nên người ta mới hỏi, thì cũng hiểu ra, có lẽ là vợ Tràng, “nhìn chị ta thèn thẹn hay đáo để”. Người đàn bà bắt không còn chua ngoa, đanh đá nữa mà trở nên thẹn thùng khi quyết định theo Tràng về làm vợ.
Làm vợ một cách bất ngờ, giữa cảnh đói như ngả rạ. Có lẽ cái nghèo đói đã đẩy hai con người đến với nhau, không phải tình yêu nhưng là tình thương. Hẳn người đọc sẽ cảm thông và xót thương cho những mảnh đời dật dờ nơi xóm ngụ cư.
Khi trở về nhà, hình ảnh bà cụ Tứ, mẹ Tràng được Kim Lân khắc họa diễn biến và sự chuyển đổi trong tâm tinh thật tài tình và sâu sắc. Người đọc sẽ hiểu hơn tấm lòng một người mẹ bao dung và hiền hậu. Chi tiết “bà lão phấp phỏng bước theo con vào nhà, đến giữa sân bà sững lại vì thaayscos một người đàn bà ở trong…” Sự băn khoăn lo lắng của bà cụ bắt đầu hiển lên. Nhưng rồi bà cũng nhận ra, cũng hiểu “bà lão cúi đầu nín lặng, bà lão hiểu rồi. Lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu ra bao nhiêu cơ sự, vừa ai oán, vừa xót xa cho số kiếp con mình. Chao ôi người ta dựng vợ gả chồng cho con là trong lúc làm ăn nên nổi, còn mình…” Những suy nghĩ chua xót của bà lão được Kim Lân diễn tả qua một loạt động từ tình thái khiến cho cái khổ, cái đói lại vồ vập và hiển hiện rõ ràng hơn bao giờ hết.
Bà đã chấp nhận người “vợ nhặt” của con trai. Tình huống khiến người đọc nhớ mãi, hình ảnh khiến người đọc khi nhắc đến tác phẩm này đều không quên là hình ảnh “nồi cháo cám” trong buổi bữa cơm đón dâu dầu tiên. Hình ảnh “nồi cháo cám” là hiện thân của cái đói nghèo đến cùng cực trong một gia đình “không còn gì giá trị nữa”. Bà cụ Tứ hôm nay thay đổi tâm trạng, toàn nói những chuyện vui trong nhà, vì bà muốn mang lại không khí vui tươi hơn giữa cái nghèo. Hình ảnh “nồi cháo cám” hiện lên bình dị, đầy chua xót và nước mắt của người mẹ nghèo. Ai cũng muốn có một bữa cơm đón dâu có mâm cao, cỗ đầy trong ngày rước dâu nhưng gia cảnh nghèo nàn, “nồi cháo cám” là thứ duy nhất đong đầy yêu thương bà có thể mang lại cho con.
Đây là một chi tiết vô cùng đắt giá trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân khiến người đọc nhớ mãi. Bên cạnh đó hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng xuất hiện của cuối truyện ngắn đã mang đến chút niềm tin và hi vọng về một tương lai tươi sáng hơn.
Bằng ngòi bút miêu tả chân thực, sinh động, cách khắc họa tâm lý nhân vật sắc sảo,độc đáo và cốt truyện đầy bất ngờ Kim Lân đã vẽ lại trước mắt người đọc khung cảnh đói nghèo tràn lan của xã hội Việt Nam những năm 1945. Qua đó tác giả cũng nhấn mạnh tình yêu thương giữa người với người luôn bất diệt.
Thứ Năm, 22 tháng 9, 2016
À ơi...
Con ơi muốn nên thân người
Lắng tai nghe lấy những lời mẹ ru...
Văn học dân gian đã được truyền miệng như thế đấy, tất cả tâm tư tình cảm, mong muốn, khát vọng, những lời răn dạy về lẽ sống làm người, tất cả đã được cha ông ta truyền từ đời này qua lời khác bằng những lời hát ru như vậy, bằng những truyện cổ tích bà kể cho cháu nghe.
| Cái hay cái đẹp của văn học dân gian |
Gập lại cuốn sách Văn học Dân gian cái hay, vẻ đẹp của Lê Xuân Mậu đã giúp tôi hiểu rõ hơn phần nào về kho tàng văn học ấy. Một kho tàng tri thức vô giá mang trong mình những lời dạy, lời đúc kết quý báu của bao đời dành cho các thế hệ sau. Dù nó được thể hiện dưới dạng văn vần, câu thơ, tục ngữ hay chỉ là bài đồng giao, câu đố. Thì những giá trị của nó dành cho con người là vô giá. Vậy mà sự tồn tại và cách đi của nó để có thể ăn sâu được vào tâm trí của từng người dân lại bằng con đường rất đơn giản: “truyền miệng”.
Một thể loại phải nhớ tới đầu tiên khi nhắc tới nền văn dân gian này là ca dao. Lời của ca dao không là lời của nhân vật cụ thể. Nên những giọng điệu tươi vui, hoan hỉ hay thương cảm, oán trách… của nó chỉ là những trạng thái cảm xúc, sắc điệu của tình cảm. Và những hình tượng nhân vật trong nó bao giờ cũng đem tính phiếm chỉ, không phải một cá nhân nào mà lại là bất kì ai trong hoàn cảnh đó.
Ví như một lời oán trách:
Nào khi anh bủng anh beo
Tay bưng bát thuốc, tay đèo múi chanh.
Bây giờ anh khỏi anh lành
Anh vui duyên mới anh tình phụ tôi.
Hay là một lời cảnh tỉnh:
Có quán tình phụ cây đa
Ba năm quán đổ, cây đa vẫn còn.
Cũng thật trùng hợp khi có cùng quan điểm với tác giả rằng ca dao đâu cần hoa mỹ mới hay. Vì hầu hết các bài ca dao chỉ sử dụng những ngôn ngữ tự nhiên – đời thường, không cầu kỳ hoa mỹ và rất giản dị, mộc mạc nữa. Vì khi được nghe những câu ca dao như vậy ta sẽ không phài tìm tòi, suy ý kiểu vòng vo, ám chỉ bóng gió xa xôi mà cảnh tình đã được suy diễn trực tiếp.
Thương anh hãy đứng xa xa
Con mắt anh liếc cũng bằng ba đứng gần.
Rất thẳng, thực và trực tiếp. Chẳng có gì là kín đáo, bóng gió nhưng những thấy được những mặt tinh vi của tình cảm được khêu gợi nếu ta có chút kinh nghiệm yêu đương và giao tiếp.
Một điều nữa mà ta thấy không thể thiếu được trong ca dao đó là ví von. Và chẳng thế mà khi ca dao hát lên mọi người vẫn thường nói là hát ví, hay cũng quen thuộc với cụm từ “ví ví von von”. Nhưng với cuốn sách tôi đã nhận được ví von ở ca dao gắn liền với thao tác so sánh trong tư duy hình tượng của người sáng tác, gắn liền với hoạt động liên tưởng:
Bây giờ mận mới hỏi đào
Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?
Cũng có thể là một dạng nhân hóa:
Con cò chết rũ trên cây
Cò con mở sách xem ngày làm ma.
Cố nhiên, do đặc điểm của ca dao và do yêu cầu được cộng đồng tiếp nhận của văn học dân gian nói chung. Những hình ảnh ví von tuy không phải là không có những hình ảnh mỹ lệ, nhưng nó vẫn có tính chất quen thuộc, ít xa lạ, ít mới mẻ. Và vì thế mà sức liên tưởng mạnh mẽ ở nhiều bài ca dao vẫn đầy sức hấp dẫn, những hình ảnh đẹp, những cảm xúc thẩm mĩ và kết quả nhân văn từ kết quả ví von.
Khi nhắc đến ca dao chắc hằn không ai không thể nhắc đến tục ngữ. Ở tục ngữ ta thấy được sự thể hiện về những tư tưởng, tình cảm tốt đẹp trong cuộc sống, trong phẩm chất đạo đức của người Việt ta. Nhưng để có được cái hồn ấy, tục ngữ lại có hình hài, da thịt đầy vẻ hấp dẫn. Và cái hay vẻ đẹp của ngôn từ cũng chính là cái duyên của tục ngữ. Khi nghe và đọc nhiều câu tục ngữ khác nhau, ta thấy được việc sử dụng những ngôn ngữ tài hoa như vậy là không hiếm. Có những từ ngữ sử dụng rất sáng tạo, gợi cảm và gây nhiều bất ngờ.
Cái nết đánh chết cái đẹp.
Hay:
Gió đông là chồng lúa chiêm, gió bấc là duyên lúa mùa.
…
Cũng rất nhiều từ đồng âm hay đa nghĩa được sử dụng rất tinh tế trong tục ngữ. Như câu “chó đen giữ mực”, hay “được voi đòi tiên” đã có sự tồn tại của các từ địa phương đồng âm với từ dùng trong ngôn ngữ toàn dân.
Không những vậy ta còn biết đến tục ngữ không chỉ có một nghĩa. Nghĩa đen – nghĩa bóng là sự phân biệt thông thường với các nghĩa có thể có ở một câu.
Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ.
…
Chuyện nghĩa đen nghĩa bóng ở tục ngữ thường được sử dụng là không có gì mới, nhưng không ít khi ta lại phải phân vân để phân tích khi như một chuyên gia.
Cái hay ở tục ngữ là vốn quý không chỉ về đạo lý, về kinh nghiệm ứng xử với thiên nhiên và con người mà còn là một kho kiến thức dùng ngôn ngữ cho mọi người và nói theo.
Những hình ảnh khi còn bé vẫn cùng chúng bạn chạy quanh, hát những bài đồng giao của tôi lại hiện về khi được gặp lại những bài hát đó trong cuốn sách. Tôi cũng chẳng ngờ được từ những bài đồng giao đó đã dạy tôi cách nói năng. Nó đã giúp tôi phát âm chính xác âm “N” như khi bày chơi “Nu na nu nống, cái cống nằm trong, cái nong nằm ngoài…” Hay tôi đã biết thêm các bài vè về các loài cá, loài chim hay những loài hoa rồi đến cả các tháng trong năm.
Tháng giêng là gió hây hây
Tháng hai gió mát, trăng bay vào đền
Tháng ba gió đưa nước lên
…
Ôi! Những bài đồng giao với ca từ mộc mạc, đơn giản. Vậy mà lại dạy được tôi những điều hay đến thế, vừa học vừa chơi một sự kết hợp đầy tinh tế cho cái tuổi ăn tuổi chơi trong những ngày thơ ấu.
Không chỉ dừng lại ở những bài đồng giao mà chính tôi có thể đọc vanh vách lúc còn nhỏ, khi mà chưa biết được đến các mặt chứ i, t. Tuổi thơ tôi còn được lớn lên cùng những câu đó dân gian đầy hứng thú bên những ổ rơm khi cả gia đình tôi quây quần.
Sừng sững mà đứng góc nhà
Ai mà động đến là òa khóc ngay (Cối xay thóc)
Hay
Hai gươm tám giáo, mặc áo da bò, thập thò cửa lỗ. (Con cua)
Đã làm tôi phải nhảy lên vì những câu trả lời nhận được mà trong khi vò đầu bứt tóc cũng chẳng ra. Những câu đố vui, không khó nhưng lại cần tài quan sát, phát hiện để sao tránh khỏi được những cú “lừa” tinh tế. Những câu đố tương tự của mọi người dành cho tôi đã giúp tôi lớn lên nhiều và đó cũng là vũ khí lợi hại của tôi dành cho những người bạn nhí của mình, chí ít là cái thời ngây ngô khi được hồ hởi mang bút, phấn đến lớp học vỡ lòng tại trường làng.
Văn học Dân gian là một kho tàng tri thức vô giá. Thật rộng lớn cho tôi để có thể hiểu hết về nó. Nhưng với tôi khi gập lại cuốn sách thì những câu đố tinh quái, bài đồng giao với đa dạng chủ đề hay những câu ca dao, câu vần vè mượt mà đã ăn sâu trong tôi từ thủa ấu thơ lại được khuấy động và sục sôi hơn nữa. Và những bài học từ những câu ca dao, tục ngữ được đúc kết từ kinh nghiệm quý báu của cha ông sẽ mãi là kim chỉ nam cho tôi trong cuộc sống, một cuộc sống tốt đẹp và hạnh phúc.
Thanh Duy
Thứ Hai, 5 tháng 9, 2016
Văn học Việt Nam trước năm 1975 là một nền văn học mang xu hướng chiến tranh nhân dân với những câu chuyện ngợi ca tinh thần chiến đầu và lao động của nhân dân ta. Đó có thể là những ca khúc hào hùng, cũng có khi sâu lắng nhưng lúc nào cũng tràn đầy hy vọng vào tương lai. Sau năm 1975, văn học có xu hướng hiện thực hóa nhiều hơn.
| Văn học Việt Nam sau năm 1975 |
Đó là đánh giá của các nhà nghiên cứu về thế hệ nhà văn sau năm 1975 - “công nhân đầu tiên mở con đường mới” cho văn học Việt Nam sau chiến tranh. Dù đã có nhiều hội thảo về văn học đổi mới, nghiên cứu của cá nhân hoặc nhóm, nhưng hội thảo khoa học quốc gia Thế hệ nhà văn sau 1975 do Trường ĐH Văn hóa Hà Nội, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức ngày 28.4, lần đầu tiên, đối tượng này được tập trung nhìn nhận đánh giá, nhằm khẳng định vị trí của họ trong vai trò đổi mới và cách tân văn học Việt Nam.
Sau hơn 40 năm, việc đánh giá diện mạo và thành tựu của thế hệ nhà văn 1975 - thế hệ chủ lực của văn học thời Đổi mới được quan tâm, nhằm nhận diện sự vận động của lịch sử văn học nước nhà. Ngày 7.5, hội thảo khoa học Thành tựu văn học Việt Nam 30 năm đổi mới sẽ được Trường Đại học Khoa học - Đại học Huế tổ chức. Một hội thảo tương tự do Hội Nhà văn chủ trì, đi vào cùng chủ đề, sẽ diễn ra trong tháng 6, nhằm tổng kết giai đoạn chuyển mình quan trọng của văn học Việt Nam.
Thệ hệ nhà văn sau 1975 từng được gọi là “thế hệ hậu chống Mỹ”, “thế hệ hậu chiến”, “thế hệ đổi mới”… PGS.TS. Đỗ Lai Thúy cho rằng, trước hết, đó có thể hiểu là những người cầm bút xuất hiện, công bố tác phẩm chỉ từ sau năm 1975, nhất là từ sau Đổi mới và Mở cửa (1986). Đa số họ viết theo tinh thần của giai đoạn này. Thứ hai là những nhà văn của giai đoạn trước, nay tiếp tục sáng tác. Một số từ giã lối viết cũ, thậm chí còn mở đầu cho lối viết mới, nhưng đa số vẫn vẫy vùng thẩm mỹ ở vùng quen thuộc. Thứ ba là những người có tác phẩm đã viết ở giai đoạn trước, nhưng không được in, vì “vượt trước thời đại”, nay họ vừa sáng tác vừa công bố những tác phẩm “bỏ ngăn kéo” của mình. Như vậy, văn học sau 1975 gồm nhiều thế hệ cầm bút, trong đó những nhà văn chỉ xuất hiện từ sau 1975 là quan trọng nhất.
Theo TS. Chu Văn Sơn, Trường ĐH Sư phạm Hà Nội, thế hệ nhà văn không đơn giản là tổng số cá nhân. Nhìn nhận một thế hệ, bởi thế cũng không phải là phép mô tả lần lượt từng người viết, mà phải nhìn vào gương mặt nghệ thuật chung của cả lớp người. Hình dung về một thế hệ không đơn giản như tiêu chí tuổi tác, thời điểm xuất hiện trước hay sau năm 1975, mà tiêu chí cốt lõi là thế hệ ấy đã kiến tạo giá trị thẩm mỹ thời mình hay chưa, nếu chưa làm được điều này thì họ chỉ có thể là sự tiếp nối của chặng trước, hoặc tiền đề của chặng sau.
Thế hệ nhà văn sau 1975, với lực lượng đông đảo và hùng hậu, không phải chặng nào cũng có được, đã kiến tạo giá trị thẩm mỹ của mình, dù cho đến nay chưa phải đã hoàn chỉnh. Từ mỹ học thời chiến sang mỹ học thời bình, từ mỹ học ca ngợi kháng chiến, theo khuynh hướng hiện thực xã hội chủ nghĩa, sang quan tâm tới số phận con người, giá trị phổ quát của nhân loại, tra vấn và đối thoại với hiện thực. Ở thời chiến, đối tượng họ quan tâm là mô tả con người - công dân, còn thời bình, họ đào sâu vào đời sống bản thể, cá thể. Họ thay đổi toàn bộ quan niệm, cái nhìn về con người, đời sống và cùng với đó là lối viết hoàn toàn khác, làm nên khác biệt với chặng văn học trước.
“Khúc rẽ” của văn học
Thế hệ nhà văn sau 1975, đặc biệt phần lớn nở rộ, được chú ý từ những năm 1980 trở đi, bởi khi ấy, xuất bản sách được mở rộng, các góc nhìn về đời sống, con người đã dần thay đổi, sự đón chào của bạn đọc... “Trong cuộc cách tân đó, văn xuôi tiên phong. Sau cuộc “bạo động” về thi pháp của Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh, thì văn xuôi đã không thể viết như trước. Cuộc bứt phá đa dạng và liên tục về thi pháp đã được châm ngòi, tiếp ứng hàng loạt cây bút như Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái, Sương Nguyệt Minh, Thuận… Tuy sau một chút, nhưng thơ bao giờ cũng hoàn tất cho một cuộc “đảo chính” về thi pháp với Nguyễn Lương Ngọc, Dương Kiều Minh, Nguyễn Quang Thiều, Mai Văn Phấn… Lề lối kiến tạo thế giới nghệ thuật như tượng trưng, siêu thực, huyền ảo, kinh dị, viễn tưởng, dã sử, cổ tích, giả cổ tích… được huy động với các kỹ thuật tự sự hiện đại xâm nhập vào văn xuôi, kỹ năng trữ tình tân kỳ hấp thụ từ cả Đông lẫn Tây được nhập tịch vào thơ” - TS. Chu Văn Sơn nhận định. Nhiều thể loại mới bùng nổ, và ngay trong những thể loại quen thuộc, thì hình thái thể loại cũng hoàn toàn khác trước. Nếu hình dung lịch sử văn học như cuộc chạy tiếp sức thì đường chạy của họ đang dồi dào, dù chặng này đã xuất hiện khá nhiều gương mặt của lớp kế tiếp.
Theo nhà văn Nguyễn Quang Thiều: Có thể không có những tác giả được vinh danh thế giới, nhưng thế hệ nhà văn sau 1975 là “khúc rẽ” của văn học Việt Nam. Họ đã làm nên giọng nói và ngôn ngữ của họ, tương ứng với ngôn ngữ, giọng nói của thời đại, ở đó hòa bình, kết thúc chiến tranh, con người bắt đầu ngồi xuống suy nghĩ về cá nhân mình và những người bé nhỏ ở bên cạnh mình. Văn học đã chuyển sang thế giới khác, sâu hơn, rộng hơn, đi sâu vào số phận con người nhưng cũng chạm đến đại lộ rộng lớn của nghệ thuật muôn thuở.
Nguồn: Đại biểu nhân dân (Lê Thủy)
Thứ Sáu, 26 tháng 8, 2016
***
Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất;
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi.
Của ong bướm này đây tuần trăng mật;
Này đây hoa của đồng nội xanh rì;
Này đây lá của cành tơ phơ phất;
Của yến anh này đây khúc tình si.
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi;
Mỗi sáng sớm, thần vui hằng gõ cửa;
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần;
Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa:
Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân.
Xuân đang tới, nghĩa là xuân đang qua,
Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già,
Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất.
Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật,
Không cho dài thời trẻ của nhân gian,
Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,
Nếu đến nữa không phải rằng gặp lại.
Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi,
Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời;
Mùi tháng, năm đều rớm vị chia phôi,
Khắp sông, núi vẫn than thầm tiễn biệt...
Cơn gió xinh thì thào trong lá biếc,
Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?
Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi,
Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?
Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa...
Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm,
Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều
Và non nước, và cây, và cỏ rạng,
Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng
Cho no nê thanh sắc của thời tươi;
Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!
- Xuân Diệu -
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)




